Khi doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không còn cân đối được dòng tiền, có nợ đến hạn chưa thanh toán hoặc đứng trước nguy cơ gián đoạn hoạt động, việc đầu tiên là xác định đúng tình trạng pháp lý và hướng xử lý. Dịch vụ tư vấn thủ tục phá sản doanh nghiệp hỗ trợ rà soát công nợ, tài sản, hợp đồng, nghĩa vụ lao động, thuế và bảo hiểm; phân tích khả năng phục hồi; xác định chủ thể nộp đơn; chuẩn bị hồ sơ và nhận diện rủi ro khi làm việc với Tòa án, Quản tài viên và chủ nợ. Nội dung tư vấn được xây dựng theo Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, không tiếp tục coi Luật Phá sản 2014 là pháp luật hiện hành.
Phá sản không chỉ là việc nộp một mẫu đơn để chấm dứt doanh nghiệp. Đây là thủ tục tư pháp liên quan đồng thời đến quyền của chủ nợ, người lao động, chủ sở hữu, người quản lý, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội và các bên có tài sản hoặc nghĩa vụ liên quan. Một đánh giá ban đầu phù hợp cần trả lời được các câu hỏi sau:
Luật Phục hồi, phá sản 2025 ưu tiên áp dụng thủ tục phục hồi. Tuy nhiên, phục hồi và phá sản phục vụ hai mục tiêu khác nhau nên không thể lựa chọn chỉ dựa trên mong muốn chủ quan.
Phục hồi nên được xem xét khi doanh nghiệp còn hoạt động có giá trị, có nguồn thu, dữ liệu kế toán kiểm chứng được, tài sản cốt lõi chưa bị phân tán và có cơ sở xây dựng kế hoạch thanh toán khả thi. Mức độ hợp tác của chủ nợ, người lao động, nhà đầu tư và đối tác cũng quan trọng. Phương án phục hồi phải nêu biện pháp kinh doanh hợp pháp, điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán nợ dựa trên dữ liệu dòng tiền.
Phá sản cần được đánh giá khi doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán, mô hình kinh doanh không còn cơ sở phục hồi, tài sản tiếp tục giảm giá hoặc phương án phục hồi không thể xây dựng hay thực hiện. Mục tiêu khi đó là xử lý nghĩa vụ và tài sản theo trật tự pháp luật, đồng thời hạn chế giao dịch làm giảm giá trị còn lại.
Theo Điều 5 Luật Phục hồi, phá sản 2025, doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán là trường hợp không thanh toán được khoản nợ sẽ đến hạn trong 06 tháng hoặc khoản nợ đã đến hạn nhưng chưa quá 06 tháng. Mất khả năng thanh toán là trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau 06 tháng kể từ ngày đến hạn. Doanh nghiệp chỉ được coi là phá sản khi mất khả năng thanh toán và có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án.
Nhóm chủ thể nộp đơn phục hồi độc lập chủ yếu thuộc nội bộ doanh nghiệp, hợp tác xã theo Điều 24. Với thủ tục phá sản, quyền hoặc nghĩa vụ nộp đơn phụ thuộc tư cách cụ thể: chủ nợ; người lao động hoặc công đoàn khi đủ điều kiện; một số cổ đông, thành viên, người đại diện và cơ quan có thẩm quyền. Cần kiểm tra điều lệ, tỷ lệ sở hữu, loại nợ, ngày đến hạn và chứng cứ trước khi nộp.
Thành phần hồ sơ nộp Tòa án thay đổi theo thủ tục, tư cách người nộp đơn và tình trạng của doanh nghiệp. Danh mục dưới đây là bộ tài liệu làm việc ban đầu, không thay thế việc kiểm tra hồ sơ chính thức theo Điều 25, Điều 39 và hướng dẫn của Tòa án:
[CẦN KIỂM TRA] Mẫu đơn, phương thức nộp, Tòa án có thẩm quyền, lệ phí và tạm ứng chi phí phải được xác nhận theo địa bàn, loại vụ việc và tư cách người nộp tại thời điểm nộp hồ sơ.
Thời gian giải quyết không thể ấn định chung cho mọi hồ sơ. Tiến độ còn phụ thuộc vào tính đầy đủ của chứng từ, số lượng chủ nợ, tranh chấp, tài sản ở nhiều địa phương, việc định giá và quyết định của cơ quan tiến hành thủ tục.
Phạm vi công việc được xác định theo hồ sơ và thỏa thuận dịch vụ, có thể gồm đánh giá pháp lý ban đầu; rà soát công nợ, tài sản và giao dịch; xây dựng lộ trình phục hồi hoặc phá sản; chuẩn bị hồ sơ; hỗ trợ trao đổi với chủ nợ và người lao động; theo dõi quá trình giải quyết; và phối hợp với Quản tài viên hoặc chuyên gia phù hợp khi vụ việc cần. Việc tư vấn không phải là cam kết Tòa án thụ lý, chủ nợ chấp thuận phương án hay bảo đảm một kết quả cụ thể.
Người đọc có thể tham khảo thêm về phục hồi doanh nghiệp, thủ tục phá sản rút gọn, vai trò của Quản tài viên, quản lý và thanh lý tài sản và định giá tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Không. Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau 06 tháng kể từ ngày đến hạn là căn cứ xác định tình trạng mất khả năng thanh toán theo Luật. Doanh nghiệp chỉ ở tình trạng phá sản khi Tòa án đã ban hành quyết định tuyên bố phá sản.
Chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Chủ thể khác cần kiểm tra đúng điều kiện và phạm vi quyền trước khi nộp.
Nhóm chủ thể nộp đơn phục hồi độc lập tại Điều 24 chủ yếu là người đại diện, cơ quan quản lý, chủ sở hữu hoặc thành viên nội bộ. Chủ nợ tham gia quyết định phương án qua Hội nghị chủ nợ theo luật.
Trong thủ tục phục hồi, doanh nghiệp có thể tiếp tục kinh doanh nhưng chịu giới hạn và giám sát. Sau khi mở thủ tục phá sản, hoạt động được thực hiện trong phạm vi luật cho phép; một số giao dịch bị cấm hoặc kiểm soát.
Cần phân biệt hai thủ tục. Điều 33 về phục hồi dùng ngưỡng từ 65% tổng số nợ của chủ nợ tham gia biểu quyết. Điều 61 về phá sản dùng ngưỡng từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên. Vụ việc cụ thể cần kiểm tra điều kiện tham gia và cách xác định nợ.
Giải thể đòi hỏi doanh nghiệp thanh toán đầy đủ nợ và nghĩa vụ tài sản. Phá sản là thủ tục Tòa án giải quyết đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Không dùng giải thể để thay thế phá sản khi không thể thanh toán đủ nghĩa vụ.
Nên chuẩn bị tóm tắt hoạt động, các khoản nợ và ngày đến hạn, tài sản chính, nghĩa vụ lao động, thuế, bảo hiểm, vụ kiện hoặc thi hành án và mục tiêu mong muốn. Chỉ gửi dữ liệu nhạy cảm sau khi thống nhất cách tiếp nhận và bảo mật.
Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ nợ hoặc người quản lý đang cân nhắc giữa phục hồi và phá sản, có thể gửi bản tóm tắt tình trạng công nợ, tài sản và vấn đề cần xử lý để được trao đổi về phạm vi tư vấn phù hợp. Việc rà soát sớm giúp xác định đúng tư cách tham gia, hồ sơ cần chuẩn bị và các giao dịch cần thận trọng; không đồng nghĩa với cam kết về thời gian hoặc kết quả giải quyết.